MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA SIÊU ÂM QUA THÓP SO VỚI CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH NÃO ÚNG THỦY TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2018-2020

Thông tin bài báo

Ngày nhận bài: 10/03/21                Ngày hoàn thiện: 26/04/21                Ngày đăng: 29/04/21

Các tác giả

1. Nguyễn Thu Hiền Email to author, Trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên
2. Đỗ Hà Thanh, Bệnh viện Trung Uơng Thái Nguyên

Tóm tắt


Não úng thủy được định nghĩa là một tình trạng bệnh lý của hệ thần kinh trung ương, là kết quả của sự gián đoạn, mất cân bằng giữa sự hình thành, lưu thông dòng chảy hoặc hấp thu dịch não - tủy. Nói cách khác, đó là tình trạng tích tụ quá nhiều dịch não tủy trong não thất do rối loạn các quá trình sản xuất, lưu thông và hấp thụ. Để chẩn đoán não úng thủy trước đây thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên để xác định bệnh sớm, chẩn đoán nguyên nhân và các mức độ tổn thương... cần có các phương pháp cận lâm sàng bổ trợ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 28 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là não úng thủy tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2018-2020 bằng siêu âm qua thóp. Kết quả thu được như sau: Nguyên nhân do bẩm sinh 57% chiếm ưu thế hơn so với nguyên nhân do mắc phải 43%. Đặc điểm lâm sàng: Kích thước vòng đầu lớn hơn 2SD chiếm tỷ lệ 53,7%; dấu hiệu mặt trời lặn chiếm 21% và 28,6% số trẻ có thóp sau rộng. Hình ảnh tổn thương não bằng siêu âm qua thóp: Siêu âm qua thóp có độ nhạy và độ đặc hiệu (so với chụp cắt lớp vi tính) là 100%.

Từ khóa


Não úng thủy; Siêu âm qua thóp; Não thất; Chảy máu não; Viêm màng não

Toàn văn:

PDF

Tài liệu tham khảo


[1] T. H. Nguyen, "Clinical characteristics and CT scan of chronic ventricular dilatation after trauma," Vietnam Medical Journal, no. 1, pp. 25-28, 2011.

[2] H. H. Duong, “Research on some causes, clinical features, imaging diagnostics and development after hydrocephalus surgery in children,” Doctoral thesis, Hanoi Medical University, 2015.

[3] P. T. Tran et al., "Research on pre-natal diagnosis of fetal ventricular dilatation detected in the last 3 months of pregnancy at the Central Obstetrics Hospital," Journal of Obstetrics and Gynecology, vol. 16, no. 01, p. 127, 2018.

[4] A. Sarkari M.S et al, “Post traumatic hydrocephalus: presentation, management and outcome an apex trauma centre experience,” Indian Journal of Neurotrauma, vol. 7, no. 02, pp. 135-138, 2010.

[5] T. Gotthard and O. Walter, “Outcome after shunt implantation in severehead injury with post traumatic hydrocephalus,” Brain Injury, vol. 14, no. 04, pp. 345-354, 2000.

[6] M. S. Greenberg, “Hydrocephalus,” Handbook of Neurosurgery, vol. 15, pp. 307-340, 2010.

[7] L. Guyot and D. B. Michael, “Post traumatic hydrocephalus,” Neurol Res., vol. 22, no. 01, pp. 25-28, 2000.

[8] C. Licata, L. Cristofori, R. Gambin, and C. Vivenza, “Post traumatic hydrocephalus,” Journal of Neurosurgical Sciences, vol. 45, no. 03, pp. 141-149, 2001.


Các bài báo tham chiếu

  • Hiện tại không có bài báo tham chiếu
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên
Phòng 408, 409 - Tòa nhà Điều hành - Đại học Thái Nguyên
Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3840 288 - E-mail: jst@tnu.edu.vn
Phát triển trên nền tảng Open Journal Systems
©2018 All Rights Reserved