NHẬN THỨC VỀ NĂNG LỰC AN TOÀN CHO NGƯỜI BỆNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN KHI THAM GIA THỰC HÀNH LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG CHÍNH QUY, TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN NĂM 2025
Thông tin bài báo
Ngày nhận bài: 05/01/26                Ngày hoàn thiện: 09/03/26                Ngày đăng: 10/03/26Tóm tắt
Năng lực an toàn người bệnh là yêu cầu cốt lõi đối với sinh viên điều dưỡng trước khi tham gia thực hành lâm sàng và đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm chất lượng chăm sóc. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 256 sinh viên điều dưỡng năm thứ ba và năm thứ tư nhằm đánh giá năng lực tự báo cáo về an toàn người bệnh trong thực hành lâm sàng và xác định một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy 55,9% sinh viên đạt mức tốt, 43,4% đạt mức trung bình và 0,8% ở mức kém. Các lĩnh vực có điểm số cao nhất bao gồm yếu tố con người và môi trường, cũng như mức độ tự tin và sẵn sàng thực hành. Việc đã học học phần an toàn người bệnh, được đào tạo giao tiếp lâm sàng, số kỳ thực hành lâm sàng và kinh nghiệm chứng kiến hoặc tham gia xử lý sự cố y khoa có liên quan có ý nghĩa thống kê đến năng lực an toàn người bệnh của sinh viên. Nhìn chung, năng lực an toàn người bệnh của sinh viên điều dưỡng ở mức khá tốt, tuy nhiên vẫn còn hạn chế trong quản lý nguy cơ và ứng phó sự cố, cho thấy cần tăng cường đào tạo an toàn người bệnh, mô phỏng và thực hành lâm sàng có hướng dẫn.
Từ khóa
Toàn văn:
PDFTài liệu tham khảo
[1] World Health Organization, Global patient safety action plan 2021-2030: towards eliminating avoidable harm in health care, World Health Organization, 2021.
[2] X. Zhang, F. Wang, Q. Wang, H. Liu, and S. Y. Lee, “The link between patient safety competence and adverse event among master of nursing students: a cross-sectional mixed-methods study,” BMC nursing, vol. 23, no. 1, 2024, Art. no. 539.
[3] S. Dionisi, M. Di Muzio, N. Giannetta, E. Di Simone, B. Gallina, C. Napoli, and G. B. Orsi, “Nursing students’ experience of risk assessment, prevention and management: A systematic review,” Journal of Preventive Medicine and Hygiene, vol. 62, no. 1, 2021, Art. no. E122.
[4] C. Bachmann, J. Pettit, and M. Rosenbaum, “Developing communication curricula in healthcare education: an evidence-based guide,” Patient education and counseling, vol. 105, no. 7, pp. 2320-2327, 2022.
[5] P. Sheehan, A. Joy, A. Fleming, H. Vosper, and S. McCarthy, “Human factors and patient safety in undergraduate healthcare education: a systematic review,” Human factors in healthcare, vol. 2, 2022, Art. no. 100019.
[6] Z. Tsimtsiou, I. Pagkozidis, A. Pappa, C. Triantafyllou, C. Vasileiou, M. Stridborg, and J. Breda, “What Do We Know About Contemporary Quality Improvement and Patient Safety Training Curricula in Health Workers? A Rapid Scoping Review,” Healthcare, vol. 13, no. 12, 2025, p. 1445
[7] World Health Organization, Global patient safety report 2024. World Health Organization, 2024.
[8] T. N. H. Nguyen, T. T. T. Duong, T. T. H. Tran, and T. H. N. Tran, “Knowledge of patient safety among nursing and midwifery students at Can Tho University of Medicine and Pharmacy and associated factors,” Can Tho Journal of Medicine and Pharmacy, vol. 74, pp. 159–165, 2024.
[9] L. Ginsburg, E. Castel, D. Tregunno, and P. G. Norton, “The H-PEPSS: an instrument to measure health professionals' perceptions of patient safety competence at entry into practice,” BMJ Quality & Safety, vol. 21, no. 8, pp. 676-684, 2012.
[10] J. Farokhzadian, G. T. Eskici, Y. Molavi-Taleghani, A. Tavan, and H. Farahmandnia, “Nursing students’ patient safety competencies in the classroom and clinical settings: a cross-sectional study,” BMC nursing, vol. 23, no. 1, 2024, Art. no. 47.DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.14449
Các bài báo tham chiếu
- Hiện tại không có bài báo tham chiếu





