CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH THIẾU NIÊN: BIẾN THIÊN THEO GIỚI TÍNH, KHỐI LỚP VÀ CÁC HIỆU ỨNG TƯƠNG TÁC | Nghi | TNU Journal of Science and Technology

CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH THIẾU NIÊN: BIẾN THIÊN THEO GIỚI TÍNH, KHỐI LỚP VÀ CÁC HIỆU ỨNG TƯƠNG TÁC

Thông tin bài báo

Ngày nhận bài: 22/01/26                Ngày hoàn thiện: 26/03/26                Ngày đăng: 26/03/26

Các tác giả

1. Nguyễn Bảo Nghi, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Cảnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
2. Lê Kim Thuý, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Cảnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
3. Lưu Tăng Phúc Khang, Đại học Chiang Mai, Thái Lan
4. Nguyễn Thị Lan, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Cảnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
5. Trương Minh Khải Email to author, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Tóm tắt


Việc ra quyết định nghề nghiệp trong giai đoạn vị thành niên là rất quan trọng, có ảnh hưởng đến lộ trình học tập và định hướng nguồn nhân lực trong tương lai. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu các bằng chứng thực nghiệm về cách các đặc điểm nhân khẩu học định hình mức độ ưu tiên giữa các yếu tố quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu hiện tại sử dụng khảo sát cắt ngang trên 634 học sinh ở ba khối lớp ở miền Nam Việt Nam và áp dụng các phân tích so sánh, phân tích tương tác, cùng mô hình tương quan để đánh giá ảnh hưởng của giới tính, khối lớp và tương tác giữa hai yếu tố này đối với các nhóm yếu tố quyết định nghề nghiệp, bao gồm cá nhân, gia đình, nhà trường, thị trường lao động và nguồn thông tin. Kết quả cho thấy học sinh nữ đánh giá cao hơn vai trò của thành tích học tập, đặc điểm nghề nghiệp mang tính đóng góp xã hội, sự phù hợp tính cách, hướng dẫn của giáo viên và các yếu tố thị trường lao động (tất cả p < 0,05). Sự khác biệt theo khối lớp được ghi nhận ở ảnh hưởng của bạn bè, cân bằng công việc–cuộc sống, nghề “theo xu hướng” và thông tin từ người có ảnh hưởng, với giá trị trung bình cao nhất ở học sinh lớp 11 (tất cả p < 0,05). Nhiều yếu tố liên quan đến nhà trường và gia đình cho thấy tương tác giới tính × khối lớp có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Phân tích tương quan cho thấy sự kết cụm giữa các yếu tố thị trường lao động, giáo dục và nguồn thông tin, phản ánh mô thức ra quyết định tích hợp. Những phát hiện này đóng góp bằng chứng mới về cấu trúc đa chiều của quyết định nghề nghiệp ở thanh thiếu niên, đồng thời chỉ ra sự biến thiên theo đặc điểm nhân khẩu học. Các nghiên cứu tương lai nên áp dụng thiết kế dọc và so sánh liên văn hóa nhằm làm rõ quỹ đạo phát triển cũng như hỗ trợ xây dựng chính sách hướng nghiệp và can thiệp giáo dục mục tiêu.

Từ khóa


Thanh thiếu niên; Quyết định nghề nghiệp; Tâm lý học giáo dục; Khác biệt giới tính; Hướng nghiệp

Toàn văn:

PDF (English)

Tài liệu tham khảo


[1] M. G. Ntholeng, “ETD: The effect of career guidance in secondary schools on skills development and sustained economic participation: meaningful employment,” Master’s Thesis, Faculty of Commerce, Graduate School of Business (GSB), 2024.

[2] E. J. Porfeli, B. Lee, and F. W. Vondracek, “Identity development and careers in adolescents and emerging adults: Content, process, and structure,” in Handbook of Vocational Psychology. Routledge, 2013, pp. 133-153.

[3] J. Yates, “A social identity approach to career development: possible selves and prototypical occupational identities,” PhD Thesis, University of East London, 2017.

[4] M. K. Johnson and J. T. Mortimer, “Career choice and development from a sociological perspective,” Career Choice and Development, vol. 4, pp. 37–81, 2002.

[5] M. R. Mancaniello and F. Lavanga, “Adolescence in the Italian labour market: In search of an equilibrium among instability, uncertainty, and AI challenges,” Social Sciences, vol. 13, no. 12, 2024, Art. no. 688, doi: 10.3390/socsci13120688.

[6] L. Guo, “Unsettled horizon: adolescents’ career expectations in the volatile, uncertain, complex, and ambiguous contexts,” Humanities and Social Sciences Communications, vol. 12, no. 1, pp. 1–11, 2025, doi: 10.1057/s41599-025-05298-6.

[7] J. Metheny and E. H. McWhirter, “Contributions of social status and family support to college students’ career decision self-efficacy and outcome expectations,” Journal of Career Assessment, vol. 21, no. 3, pp. 378–394, 2013, doi: 10.1177/1069072712475164.

[8] X. Xing and J. W. Rojewski, “Family influences on career decision-making self-efficacy of Chinese secondary vocational students,” New Waves–Educational Research and Development Journal, vol. 21, no. 1, pp. 48–67, 2018.

[9] L. Xin, F. Tang, M. Li, and W. Zhou, “From school to work: Improving graduates’ career decision-making self-efficacy,” Sustainability, vol. 12, no. 3, 2020, Art. no. 804, doi: 10.3390/su12030804.

[10] C. Y. Kwok, “Managing uncertainty in the career development of emerging adults: Implications for undergraduate students,” Australian Journal of Career Development, vol. 27, no. 3, pp. 137–149, 2018, doi: 10.1177/1038416217744216.

[11] D. C. Feldman and K. M. Whitcomb, “The effects of framing vocational choices on young adults' sets of career options,” Career Development International, vol. 10, no. 1, pp. 7–25, 2005, doi: 10.1108/13620430510577600.

[12] M. Akinlolu, T. Omotayo, O. J. Ebohon, and D. Ekundayo, “An analysis of the mediational effect of socio-cultural factors on student’s career choice outcomes in the built environment: Applying the socio-cognitive career theory,” Education Sciences, vol. 13, no. 10, 2023, Art. no. 1035, doi: 10.3390/educsci13101035.




DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.14616

Các bài báo tham chiếu

  • Hiện tại không có bài báo tham chiếu
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên
Phòng 408, 409 - Tòa nhà Điều hành - Đại học Thái Nguyên
Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3840 288 - E-mail: jst@tnu.edu.vn
Phát triển trên nền tảng Open Journal Systems
©2018 All Rights Reserved