CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC HẤP DẪN CỦA ĐIỂM ĐẾN ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA TRONG BỐI CẢNH COVID-19 | Phượng | TNU Journal of Science and Technology

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC HẤP DẪN CỦA ĐIỂM ĐẾN ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA TRONG BỐI CẢNH COVID-19

Thông tin bài báo

Ngày nhận bài: 02/12/21                Ngày hoàn thiện: 16/12/21                Ngày đăng: 16/12/21

Các tác giả

1. Lê Thái Phượng Email to author, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
2. Tô Văn Hạnh, Trường Đại học Sư phạm – ĐH Đà Nẵng
3. Phạm Thị Chi, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng

Tóm tắt


Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) đã gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế và đặc biệt là ngành du lịch. Các điểm đến đang đối mặt với những khó khăn trong việc thu hút khách. Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của điểm đến Đà Nẵng trong bối cảnh COVID-19 nhằm gợi ý một số giải pháp thu hút khách nội địa đến Đà Nẵng trong bối cảnh COVID-19, đồng thời định hướng nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến Đà Nẵng trong tương lai. Nghiên cứu định lượng được sử dụng với sự hỗ trợ của SPSS 20.0 và SmartPLS 2.0. Kết quả cho thấy có 06 nhân tố ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của điểm đến Đà Nẵng trong bối cảnh COVID-19 theo thứ tự giảm dần, gồm: (1) Sức hấp dẫn tự nhiên; (2) Sức hấp dẫn văn hóa; (3) Giá cả sản phẩm dịch vụ; (4) Các hoạt động, lễ hội, vui chơi giải trí; (5) Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, an ninh an toàn; (6) Chính sách kích cầu trong bối cảnh COVID-19. Ngoài ra, nhận thức của du khách về bối cảnh COVID-19 tại Đà Nẵng đã làm tăng mối quan hệ tích cực giữa các thuộc tính điểm đến Đà Nẵng và sức hấp dẫn của điểm đến Đà Nẵng đối với khách nội địa trong bối cảnh COVID-19.

Từ khóa


Điểm đến; Sức hấp dẫn; Du lịch; Khách du lịch nội địa; Đà Nẵng

Toàn văn:

PDF

Tài liệu tham khảo


[1] Y. Hu and J. R. B. Ritchie, “Measuring Destination Attractiveness: A Contextual Approach,” Journal of Travel Research, vol. 32, no. 2, pp. 25-34, 1993.

[2] D. Krešić and D. Prebežac, “Index of destination attractiveness as a tool for destination attractiveness assessment,” Tourism, vol. 59, no. 4, pp. 497-517, 2011.

[3] U. L. Naser and C. Manjula, “A Index of Destination Attractiveness: a Quantitative Approach for Measuring Tourism Attractiveness,” Original scientific paper, vol. 25, no. 1, pp. 31–44 2021.

[4] C. Lue, J. L. Crompton, and W. P. Stewart, “Evidence of Cumulative Attraction in Multidestination Recreational Trip Decision,” Journal of Travel Research, vol. 35, no. 1, pp. 41-50, 1996.

[5] C. E. Gearing, W. W. Swart, and T. Var, “Establishing a measure of touristic attractiveness,” Journal of Travel Research, vol. 12, no. 4, pp. 1-8, 1974.

[6] J. R. B. Ritchie and M. Zins, “Culture as Determinant of the Attractiveness of a Tourism Region,” Annals of Tourism Research, vol. 5, pp. 28-33, 1978.

[7] T. Var, R. A. D. Beck, and P. Loftus, “Determination of Touristic Attractiveness of the Touristic Areas in British Columbia,” Journal of Travel Research, vol. 15, no. 3, pp. 23-29, 1977.

[8] R. Klufová, “Destination attractiveness of the South Bohemian region from the viewpoint of spatial data analysis,” Deturope, vol. 8, no. 1, pp. 92-111, 2016.

[9] P. M. Dimitrov, M. Z. Stankova, I. Vasenska, and D. Uzunova, “Increasing attractiveness and image recognition of Bulgaria as a tourism destination,” Tourism and Management Studies, vol. 13, no. 3, pp. 39-47, 2017.

[10] S. Islam, K. Hossain, and M. E. Noor, “Determining Drivers of Destination Attractiveness: The Case of Nature-Based Tourism of Bangladesh,” International Journal of Marketing Studies, vol. 9, no. 3, pp. 10-23, 2017.

[11] T.T. Bui and M. Q. Le, “Measuring Destination Attractiveness of Hue,” (in Vietnamese),Hue University Journal of Science, vol. 72, no. 3, pp. 295-305, 2012.

[12] T. V. Le, “Destination Attractiveness of Mekong Delta’s eastern coastal,” (in Vietnamese), Can Tho University Journal of Science, vol. 55, no. 5, pp. 117-123, 2019.

[13] Da Nang People's Committee, “Tourism development plan for the 2021-2025 period,” (in Vietnamese), 2021. [Online]. Available: http://statis.dsp.vn/ThacGian/documents/7513%20kh_signed.PDF. [Accessed October 15, 2021].

[14] Danang Department of Tourism, “Report on results of tourism in 2020, directions and tasks in 2021,” (in Vietnamese), 2021. [Online]. Available: https://tourism.danang.gov.vn/-/ket-qua-hoat-ong-du-lich-nam-2020-va-phuong-huong-nhiem-vu-nam-2021. [Accessed October 15, 2021].

[15] A. Chebli and F. Ben Said, “The impact of Covis-19 on tourist consumption behaviour:a perspective article,” Journal of Tourism Management Research, vol. 7, no. 2, pp. 196-207, 2020.

[16] T. N. L. Nguyen, Basic Marketing. Da Nang: Education Publishing House (in Vietnamese), 1997.

[17] J. F. Hair, W. C. Black, B. J. Babin, and R. E. Anderson, Multivariate data analysis. NJ, Upper Saddle River: Prentice Hall, 2010.

[18] D. T, Nguyen, The scientific method in business research. Ha Noi: Finance Publishing House (in Vietnamese), 2013.




DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.5316

Các bài báo tham chiếu

  • Hiện tại không có bài báo tham chiếu
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên
Phòng 408, 409 - Tòa nhà Điều hành - Đại học Thái Nguyên
Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3840 288 - E-mail: jst@tnu.edu.vn
Phát triển trên nền tảng Open Journal Systems
©2018 All Rights Reserved