ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÁC ĐỊNH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI NÚI CẤM, TỈNH AN GIANG | Niên | TNU Journal of Science and Technology

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÁC ĐỊNH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI NÚI CẤM, TỈNH AN GIANG

Thông tin bài báo

Ngày nhận bài: 14/01/22                Ngày hoàn thiện: 16/02/22                Ngày đăng: 24/02/22

Các tác giả

1. Nguyễn Châu Niên Email to author, Trường Đại học Nông lâm, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Dương Lệ Ngọc, Trường Đại học Nông lâm, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Trương Minh Thức, Trường Đại học Nông lâm, Thành phố Hồ Chí Minh
4. Phạm Hữu Nguyên, Trường Đại học Nông lâm, Thành phố Hồ Chí Minh
5. Võ Thái Dân, Trường Đại học Nông lâm, Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt


Những năm gần đây, canh tác nông nghiệp ngày càng cao tạo áp lực cho việc bảo tồn và phát triển rừng ở núi Cấm. Nhiều mô hình canh tác nông lâm kết hợp đã được áp dụng. Tuy nhiên, các mô hình hiện hữu chưa được đánh giá đầy đủ. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế, xác định yếu tố tương quan đến hiệu quả kinh tế và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các mô hình. Điều tra được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2021. Có 88 hộ đã được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn. Các dữ liệu về hiện trạng sản xuất, tổng thu nhập và điều kiện tự nhiên đã được thu thập và phân tích. Kết quả cho thấy có 5 mô hình nông lâm kết hợp với 4 nhóm cây nông nghiệp được trồng xen cây rừng. Mô hình nông lâm kết hợp chiếm 62,8% tổng thu nhập hàng năm của nông hộ với lợi nhuận từ 15,5 - 61,8 triệu đồng/ha/năm. Hiệu quả kỹ thuật của các mô hình đạt 77,98%. Lao động chính, diện tích canh tác và công chăm sóc tương quan thuận với tổng thu nhập, trong khi độ dốc của đất trồng và số lần tham gia tập huấn của các nông hộ là hai yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các mô hình nông lâm kết hợp.

Từ khóa


Mô hình nông lâm kết hợp; Hiệu quả kinh tế; Hiệu quả kỹ thuật; Yếu tố tương quan; Yếu tố ảnh hưởng

Tài liệu tham khảo


[1] Forest Protection Department of An Giang Province, Report summarizing activities in 2018 and directions and tasks in 2019, An Giang Department of Agriculture and Rural Development, 2020.

[2] T. T. Q. Dang, V. H. Tran, and K. N. Dang, “Analysis of agroforestry farming system combined with mountainous areas of An Giang province,” Can Tho University Journal of Science, vol. 55: Environment and Climate Change (1), pp. 79-87, 2019.

[3] An Giang Statistical Office. “An Giang Statistical Yearbook 2018,” March 2021. [Online]. Available: thongkeangiang.gov.vn. [Accessed Oct. 2021].

[4] ICRAF (International Centre for Research in Agroforestry), Handbook of Agroforestry, Tokyo, Japan, 1999.

[5] J. G. Bellow, R. F. Hudson and P. K. R. Nair, “Adoption potential of fruit-tree-based agroforestry on small farms in the subtropical highlands,” Agroforestry Systems, vol. 73, no. 1, pp. 23-36, 2008.

[6] V.H. Do, N. La, R. Mulia, G. Bergkvist, A. S. Dahlin, V.T. Nguyen, H. T. Pham, and I. Öborn, “Fruit tree-based agroforestry systems for smallholder farmers in northwest Vietnam-A quantitative and qualitative assessment” Land, vol. 9, no. 11, p. 451, 2020.

[7] X. Zou and R. L. Sanford, “Agroforestry systems in China: a survey and classification,” Agroforestry systems, vol. 11, no. 1, pp. 85-94, 1990.

[8] M. G. Miah and M. J. Hussain, “Homestead agroforestry: a potential resource in Bangladesh,” In Sociology, Organic Farming, Climate Change and Soil Science, pp. 437-463. Springer, Dordrecht, 2010.

[9] The People's Committee of An Giang Province, An Giang Geography, 2013.

[10] G. D. Israel, “Determining sample size (IFAS Report PEOD6),” Retrieved from University of Florida, Institute of Food and Agricultural Sciences Extension website. [Online]. Available: http://edis.ifas.ufl.edu/pd006. [Accessed Sept. 2021].

[11] G. E. Battese and T. J. Coelli, “A model for technical inefficiency effects in a stochastic frontier production function for panel data,” Empirical Economics, 20(2), pp. 325-332, 1995.

[12] H. R. Watson, and W. A. Laquihon, “Sloping agricultural land technology: an agroforestry model for soil conservation,” Agroforestry in the Humid Tropics. Environment and Policy Institute, East-West Center, Honolulu, Hawaii and Southeast Asian Regional Center for Graduate Study and Research in Agriculture, Laguna, Philippines, pp. 209-226, 1987.

[13] H. D. Tacio, “Sloping agricultural land technology (SALT): a sustainable agroforestry scheme for the uplands,” Agroforestry Systems, vol. 22, no. 2, pp. 145-152, 1993.

[14] N. H. Dang, “Technique efficiency of dragon fruit farming households in Chau Thanh District, Long An Province,” Vietnam Journal of Agricultural Sciences, vol. 15, no. 4, pp. 537-544, 2017.




DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.5455

Các bài báo tham chiếu

  • Hiện tại không có bài báo tham chiếu
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên
Phòng 408, 409 - Tòa nhà Điều hành - Đại học Thái Nguyên
Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3840 288 - E-mail: jst@tnu.edu.vn
Phát triển trên nền tảng Open Journal Systems
©2018 All Rights Reserved