ĐẶC ĐIỂM MẬT ĐỘ XƯƠNG CỦA ĐỐI TƯỢNG 10 ĐẾN 49 TUỔI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN | Soan | TNU Journal of Science and Technology

ĐẶC ĐIỂM MẬT ĐỘ XƯƠNG CỦA ĐỐI TƯỢNG 10 ĐẾN 49 TUỔI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Thông tin bài báo

Ngày nhận bài: 20/03/23                Ngày hoàn thiện: 16/05/23                Ngày đăng: 16/05/23

Các tác giả

1. Hoàng Thu Soan Email to author, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
2. Vũ Tiến Thăng, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
3. Nguyễn Việt Đức, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
4. Đàm Thu Hiền, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
5. Vi Thị Phương Lan, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
6. Nguyễn Thu Phương, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
7. Chu Hoàng Hưng, Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

Tóm tắt


Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mật độ khoáng xương cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ đầu trên xương đùi, xương toàn thân trên người khỏe mạnh tỉnh Thái Nguyên ở độ tuổi 10-49 bằng phương pháp DEXA. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 566 đối tượng sinh sống tại tỉnh Thái Nguyên không mắc các bệnh về xương hoặc liên quan đến xương. Kết quả cho thấy, mật độ khoáng xương (BMD) ở cổ xương đùi tăng dần từ 10 đến 39 tuổi, từ 40 tuổi bắt đầu giảm dần. Ở nhóm 10-19 tuổi, BMD của cổ xương đùi và toàn bộ đầu trên xương đùi tương tự giữa 2 giới; nhưng BMD của đốt sống L1-4 và BMD toàn thân của nam thấp hơn của nữ. Từ 20-49 tuổi, đa số BMD ở các vị trí cổ xương đùi, toàn bộ đầu trên xương đùi, L1-L4 và toàn thân của nam cao hơn của nữ. Thời điểm đạt khối lượng xương đỉnh ở nam là khoảng 34 tuổi, ở nữ khoảng 30 tuổi và BMD của cổ xương đùi đạt đỉnh ở nam là khoảng 29 tuổi và khoảng 27 tuổi ở nữ. Chỉ số khối cơ xương có mối liên quan đến mật độ xương chặt chẽ hơn so với chỉ số khối mỡ. Kết quả mật độ xương trong nghiên cứu nên sử dụng làm giá trị tham chiếu cho người dân Thái Nguyên.

Từ khóa


BMD; DEXA; FMI; Loãng xương; Thái Nguyên

Toàn văn:

PDF

Tài liệu tham khảo


[1] L. M. Maynard et al., “Total-body and regional bone mineral content and areal bone mineral density in children aged 8–18 yr: the Fels Longitudinal Study,” Am J Clin Nutr., vol. 68, pp. 1111-1117, 1998.

[2] G. Alwis et al., “Normative dual energy x-ray absorptiometry data in Swedish children and adolescents,” Acta Paediatr, vol. 99, pp. 1091–1099, 2010.

[3] T. Matsukura et al., “Reference data in the second decade based on calendar age and puberty onset: Japanese population based osteoporosis (JPOS) study,” Osteoporos Int., vol. 11, pp. 858-865, 2000.

[4] H. Xu et al., “Normal reference for bone density in healthy Chinese children,” J Clin Densitom, vol. 10, pp. 266-275, 2007.

[5] S. H. Lee et al., “Bone mineral density of proximal femur and spine in Korean children between 2 and 18 years of age,” J Bone Miner Metab., vol. 25, pp. 423-430, 2007.

[6] A. V. Khadilkar et al., “Normative data and percentile curves for Dual Energy X-ray Absorptiometry in healthy Indian girls and boys aged 5–17 years,” Bone, vol. 48, pp. 810-819, 2011.

[7] P. T. L. Ho et al., “The diagnosis of osteoporosis: the influence of reference values,” Medical Ho Chi Minh, vol. 15, Supplement of no. 2, pp. 149-158, 2011.

[8] H. T. T. Nguyen et al., “Peak bone mineral density in Vietnamese women,” Archives of osteoporosis, vol. 4, no. 1-2, pp. 9-15, 2009.

[9] P. T. L. Ho et al., “Reference ranges for bone mineral density and prevalence of osteoporosis in Vietnamese men and women,” BMC Musculoskelet Disord, vol. 2011, 2011, Art. no. 182, doi: 10.1186/1471-2474-12-182.

[10] V. Naganathan et al., “Gender differences in volumetric bone density: a study of opposite-sex twins,” Osteoporosis International, vol. 14, no. 7, pp. 564-569, 2003.

[11] C. J. Crespo et al., “Leisure‐time physical activity among US adults,” Arch Intern Med, vol. 156, pp. 93-98, 1996.

[12] H. M. Frost, “On the estrogen‐bone relationship and postmenopausal bone loss: A new model,” J Bone Miner Res, vol. 14, pp. 1473-1477, 1999.

[13] P. T. L. Ho et al., “Relationship between Body Mass Index and Percent Body Fat in Vietnamese: Implications for the Diagnosis of Obesity, Implications for the Diagnosis of Obesity,” PloS one, vol. 10, no. 5, 2015, Art. no. e0127198.




DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.7570

Các bài báo tham chiếu

  • Hiện tại không có bài báo tham chiếu
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên
Phòng 408, 409 - Tòa nhà Điều hành - Đại học Thái Nguyên
Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3840 288 - E-mail: jst@tnu.edu.vn
Phát triển trên nền tảng Open Journal Systems
©2018 All Rights Reserved