HIỆU QUẢ CỦA NEMOLIZUMAB Ở BỆNH NHÂN VIÊM DA CƠ ĐỊA MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH ĐẾN NẶNG: PHÂN TÍCH GỘP | Tân | TNU Journal of Science and Technology

HIỆU QUẢ CỦA NEMOLIZUMAB Ở BỆNH NHÂN VIÊM DA CƠ ĐỊA MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH ĐẾN NẶNG: PHÂN TÍCH GỘP

Thông tin bài báo

Ngày nhận bài: 25/12/24                Ngày hoàn thiện: 10/06/25                Ngày đăng: 11/06/25

Các tác giả

1. Hà Văn Tân Email to author, Spa Vitoria
2. Bùi Thị Xuân Mai, Mbclinic
3. Vũ Thị Tường Vân, Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Bắc Giang
4. Lã Trọng Quyền, Trung tâm Y tế quận Hai Bà Trưng
5. Trần Thu Phương, Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì

Tóm tắt


Nemolizumab, là một kháng thể đơn dòng nhắm vào thụ thể interleukin-31 (IL-31), là hướng điều trị tiềm năng cho viêm da cơ địa, bệnh mãn tính ảnh hưởng 15–20% trẻ em, 1–7% người lớn, gây ngứa dữ dội, ban đỏ, dày da, làm giảm chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả, an toàn của nemolizumab ở bệnh nhân viêm da cơ địa trung bình–nặng qua phân tích gộp. Chúng tôi tìm kiếm PubMed từ 01/2020 đến 12/2024, chọn 8 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên theo hướng dẫn PRISMA, ưu tiên nghiên cứu mù đôi báo cáo Đánh giá Toàn cầu (IGA). Kết quả chính được tính bằng tỷ số nguy cơ (RR) với khoảng tin cậy 95%, phân tích bằng R 4.4.2, gói “meta”. Nemolizumab cải thiện triệu chứng vượt giả dược (RR = 0,79; 95% CI: 0,74–0,83, fixed-effects; RR = 0,75; 95% CI: 0,68–0,82, random-effects; I² = 45%, do khác biệt cỡ mẫu, liều, thời gian). Mô hình random-effects cho giảm ngứa 25% so với 21% (giả dược). Tác dụng phụ nhẹ, với tỷ lệ 21,8% (nemolizumab) so với 22,4% (giả dược). Hạn chế gồm không đồng nhất, giới hạn nguồn dữ liệu chỉ từ PubMed và thiếu thông tin theo dõi dài hạn. Nemolizumab cho thấy tiềm năng đáng kể trong điều trị viêm da cơ địa, cần được nghiên cứu thêm.

Từ khóa


Nemolizumab; Viêm da cơ địa; Trung bình đến nặng; Ngứa; Phân tích gộp; Hiệu quả điều trị

Toàn văn:

PDF

Tài liệu tham khảo


[1] S. Nutten, “Atopic dermatitis: global epidemiology and risk factors,” Ann. Nutr. Metab., vol. 66, no. Suppl 1, pp. 8–16, 2015, doi: 10.1159/000370220.

[2] Z. C. C. Fuxench et al., “Atopic Dermatitis in America Study: A Cross-Sectional Study Examining the Prevalence and Disease Burden of Atopic Dermatitis in the US Adult Population,” J. Invest Dermatol, vol. 139, no. 3, pp. 583–590, Mar. 2019, doi: 10.1016/j.jid.2018.08.028.

[3] H. C. Williams, “Clinical practice. Atopic dermatitis,” N. Engl. J. Med., vol. 352, no. 22, pp. 2314–2324, Jun. 2005, doi: 10.1056/NEJMcp042803.

[4] S. Weidinger and N. Novak, “Atopic dermatitis,” Lancet, vol. 387, no. 10023, pp. 1109–1122, Mar. 2016, doi: 10.1016/S0140-6736(15)00149-X.

[5] L. F. Eichenfield et al., “Guidelines of care for the management of atopic dermatitis: section 2. Management and treatment of atopic dermatitis with topical therapies,” J. Am. Acad. Dermatol, vol. 71, no. 1, pp. 116–132, Jul. 2014, doi: 10.1016/j.jaad.2014.03.023.

[6] R. Sidbury et al., “Guidelines of care for the management of atopic dermatitis: section 3. Management and treatment with phototherapy and systemic agents,” J. Am. Acad. Dermatol, vol. 71, no. 2, pp. 327–349, Aug. 2014, doi: 10.1016/j.jaad.2014.03.030.

[7] K. Kabashima, T. Matsumura, H. Komazaki, M. Kawashima, and Nemolizumab-JP01 Study Group, “Trial of Nemolizumab and Topical Agents for Atopic Dermatitis with Pruritus,” N. Engl. J. Med., vol. 383, no. 2, pp. 141–150, Jul. 2020, doi: 10.1056/NEJMoa1917006.

[8] T. Ruzicka et al., “Anti-Interleukin-31 Receptor A Antibody for Atopic Dermatitis,” N. Engl. J. Med., vol. 376, no. 9, pp. 826–835, Mar. 2017, doi: 10.1056/NEJMoa1606490.

[9] J. I. Silverberg et al., “Nemolizumab with concomitant topical therapy in adolescents and adults with moderate-to-severe atopic dermatitis (ARCADIA 1 and ARCADIA 2): Results from two replicate, double-blind, randomised controlled phase 3 trials,” Lancet, vol. 404, no. 10451, pp. 445–460, Aug. 2024, doi: 10.1016/S0140-6736(24)01203-0.

[10] J. I. Silverberg et al., “Phase 2B randomized study of nemolizumab in adults with moderate-to-severe atopic dermatitis and severe pruritus,” J. Allergy Clin. Immunol, vol. 145, no. 1, pp. 173–182, Jan. 2020, doi: 10.1016/j.jaci.2019.08.013.

[11] K. Kabashima, T. Matsumura, Y. Hayakawa, M. Kawashima, and Nemolizumab-JP01 Study Group, “Clinically meaningful improvements in cutaneous lesions and quality of life measures in patients with atopic dermatitis with greater pruritus reductions after treatment with 60 mg nemolizumab subcutaneously every 4 weeks: Subgroup analysis from a phase 3, randomized, controlled trial,” J. Dermatolog Treat, vol. 34, no. 1, 2023, Art. no. 2177096, doi: 10.1080/09546634.2023.2177096.

[12] J. I. Silverberg et al., “Nemolizumab is associated with a rapid improvement in atopic dermatitis signs and symptoms: subpopulation (EASI ≥ 16) analysis of randomized phase 2B study,” J. Eur. Acad. Dermatol. Venereol, vol. 35, no. 7, pp. 1562–1568, Jul. 2021, doi: 10.1111/jdv.17218.

[13] M. J. Page et al., “The PRISMA 2020 statement: An updated guideline for reporting systematic reviews,” BMJ, vol. 372, Mar. 2021, doi: 10.1136/bmj.n71.

[14] W. S. Richardson, M. C. Wilson, J. Nishikawa, and R. S. Hayward, “The well-built clinical question: A key to evidence-based decisions,” ACP J. Club, vol. 123, no. 3, pp. A12–A13, Nov. 1995.

[15] D. Moher, A. Liberati, J. Tetzlaff, D. G. Altman, and The PRISMA Group, “Preferred reporting items for systematic reviews and meta-analyses: The PRISMA statement,” BMJ, vol. 339, Jul. 2009, doi: 10.1136/bmj.b2535.

[16] J. A. C. Sterne et al., “RoB 2: A revised tool for assessing risk of bias in randomised trials,” BMJ, vol. 366, Aug. 2019, doi: 10.1136/bmj.l4898.

[17] M. Borenstein, L. V. Hedges, J. P. T. Higgins, and H. R. Rothstein, Introduction to Meta-Analysis. Chichester, UK: John Wiley & Sons, 2009, doi: 10.1002/9780470743386.

[18] A. Igarashi, T. Katsunuma, T. Matsumura, H. Komazaki, and Nemolizumab-JP04 Study Group, “Efficacy and safety of nemolizumab in paediatric patients aged 6–12 years with atopic dermatitis with moderate-to-severe pruritus: Results from a phase III, randomized, double-blind, placebo-controlled, multicentre study,” Br. J. Dermatol., vol. 190, no. 1, pp. 20–28, 2023, doi: 10.1093/bjd/ljad268.




DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.11764

Các bài báo tham chiếu

  • Hiện tại không có bài báo tham chiếu
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên
Phòng 408, 409 - Tòa nhà Điều hành - Đại học Thái Nguyên
Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3840 288 - E-mail: jst@tnu.edu.vn
Phát triển trên nền tảng Open Journal Systems
©2018 All Rights Reserved